Gánh gánh… gồng gồng…

Hồi ký của một người phụ nữ Việt Nam có cuộc đời đầy thăng trầm nhưng vô cùng đáng ngưỡng mộ.

Nguyễn Thị Xuân Phượng • 2​020

​Một thế hệ đã đi qua nhiều gian khổ, nhưng cũng để lại cho chúng ta niềm tin, sự tự hào và cả một lời nhắn gửi về trách nhiệm với cuộc sống hôm nay.

Cuốn hồi ký Gánh gánh…gồng gồng… của Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng, phiên bản đầu tiên bằng tiếng Pháp xuất bản năm 2001. Tới năm 2020 phiên bản tiếng Việt mới ra mắt tại Việt Nam, vào lúc tác giả đã 91 tuổi. Ngay lập tức cuốn sách này đã gây tiếng vang lớn, đoạt 2 giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn TP.HCM, được tái bản nhiều lần.

Cuộc đời phi thường của bà Xuân Phượng được bà kể lại theo trình tự thời gian, từ những ngày còn bé thơ học ở Đà Lạt, rồi trải qua nhiều công việc khác nhau khi bà tham gia kháng chiến cho tới hoà bình khi trở về Hà Nội: Tuyên truyền viên, y tế viên, nhân viên chế tạo thuốc nổ, làm báo, trưởng phòng khám y tế, phiên dịch và biên dịch tiếng Pháp, phóng viên chiến trường, đạo diễn phim tài liệu…

Hơn 90 năm của cuộc đời nhiều thăng trầm nhưng phong phú của bà sẽ khiến bất cứ ai đọc cuốn hồi ký này phải dừng lại nghĩ sâu hơn về các thế hệ đi trước của đất nước. Đây cũng là một bộ phim tài liệu rõ nét về cả một giai đoạn lịch sử nhiều đau thương mà các thế hệ ông cha chúng ta đã trải qua. Điều thú vị là nhiều chuyện được kể trong cuốn hồi ký này hiếm khi thấy xuất hiện trong sách báo trước đây. Có lẽ quãng nghỉ của thời gian và cả thời thế đã đủ dài để những câu chuyện quá khứ đó được kể lại rõ nét hơn, thật hơn, tự nhiên hơn, tình cảm hơn.

Có thể điểm nhiều cột mốc lịch sử lớn trong cuộc đời bà, trải dài suốt gần một thế kỷ: 1945, Chứng kiến lễ thoái vị của vua Bảo Đại. 1946, Lên chiến khu tham gia chế thuốc nổ, nhồi lựu đạn với sự hướng dẫn của Giáo sư Trần Đại Nghĩa. 1967: Được Bác Hồ giao nhiệm vụ vào Vĩnh Linh theo đoàn làm phim của hai nhà điện ảnh Joris Ivens và người bạn đời là bà Marceline Loridan, chăm sóc sức khỏe và làm phiên dịch tiếng Pháp cho đoàn. Với chuyến đi với nhiều lần sinh tử dưới bom đạn này, đoàn làm phim đã cho ra đời bộ phim tài liệu Vĩ tuyến 17 – Chiến tranh nhân dân (Le 17e parallèle: La guerre du peuple), giúp đưa những hình ảnh chân thực về cuộc sống của nhân dân Vĩnh Linh dưới làn lửa đạn lên màn ảnh thế giới. 1975: Tham gia đoàn phim quay chiến dịch Hồ Chí Minh từ Huế vào Sài Gòn, quay được cuộc họp báo lịch sử tại Dinh Độc Lập. 1991: Mở phòng tranh Lotus, phòng tranh tư nhân đầu tiên tại TP.HCM.

Sức lao động mãnh liệt của bà Xuân Phượng với ngành hội hoạ, dù ở giai đoạn sau khi bà đã nghỉ hưu, sẽ khiến chúng ta có thêm niềm tin vào khả năng con người có thể tươi trẻ cả tâm hồn và thể chất khi về già, tiếp tục sống vui vẻ và có ích với đời. Một thế hệ đã đi qua nhiều gian khổ, nhưng cũng để lại cho chúng ta niềm tin, sự tự hào và cả một lời nhắn gửi về trách nhiệm với cuộc sống hôm nay.

Ngày cập nhật: 04/02/2026

Mục lục
Trước nội dung chính
  • Mở đầu.
  • Đà Lạt những năm 1930.
  • Cậu hiển.
  • Những trường học đầu tiên.
  • Vĩnh biệt tuổi thơ.
  • Từ Phan Rí về Huế.
  • Xếp bút nghiên.
  • Rung động đầu đời.
  • Đoàn Tuyên truyền Mặt trận khu C.
  • Quân Y vụ Liên khu.
  • Chế tạo thuốc nổ.
  • Sinh con đầu lòng.
  • Về với em chồng.
  • Làm báo Công Tác Thóc Gạo.
  • Tất cả cho Điện Biên Phủ.
  • Trở về Hà Nội.
  • Khu tập thể 1 Lê Phụng Hiểu.
  • Giã từ binh nghiệp.
  • Trưởng Phòng khám Nhi khu Ba Đình.
  • Phòng khám thuộc Ủy ban Liên lạc Văn hóa với Nước ngoài.
  • Vĩ tuyến 17.
  • Đêm đầu tiên dưới lòng đất Vĩnh Linh.
  • Quay phim cột cờ Vĩnh Linh.
  • Cháu bé chào đời trong lòng đất.
  • Để chuẩn bị cho đoạn kết của phim.
  • Khi phim được chiếu tại Paris năm 1968. Phần kết của phim “Vĩ tuyến 17 – Chiến tranh nhân dân”.
  • Em bé chín tuổi cầm súng.
  • Đi một ngày đàng... Học một sàng khôn.
  • Sống với người tốt.
  • Sống dưới bom.
  • Huế ngày trở lại.
  • Quê ngoại.
  • Đà Nẵng – Nha trang tháng 3.1975.
  • Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Trở lại Đà Lạt.
  • Trở lại Hà Nội.
  • Pháp du ký lần 1.
  • Gặp lại mẹ.
  • Đến chào những người thầy.
  • Những cuộc gặp đặc biệt.
  • Buổi triển lãm tranh đầu tiên.
  • Phòng tranh yêu mến.
  • Lần thứ hai gặp mẹ.
  • Những người bạn cùng thời.
  • Hũ gạo cứu nhau.
  • Phan Vũ với Paris.
  • Chuyện ông Lumière của Đồng Tháp Mười.
  • Tạm biệt.

Dư luận.

  • Thiếu nữ 93: Không chịu đánh mất hình ảnh. Hồ Anh Thái.
  • Số phận một người đàn bà. Phạm Xuân Nguyên.
  • Đời mình thành chuyện của thời mình. Bảo Ninh.
  • “Cuộc đời tôi như cánh chim ngược gió". Hồ Sơn thực hiện.
  • “Viết để các thế hệ thấu hiểu nhau hơn”. Thùy Minh.
  • Cuốn hồi ký chạm đến trái tim. Thanh Tùng.
  • Bà “Gánh gánh gồng gồng” như tôi được gặp. Hoài Nam.